Chồng tham gia bảo hiểm xã hội, vợ vẫn được hưởng chế độ thai sản dù không tham gia

Phụ nữ không tham gia bảo hiểm xã hội khi mang thai vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm thai sản theo chồng là một trong những quyết định dành được nhiều sự quan tâm của xã hội hiện nay.

Chồng tham gia bảo hiểm xã hội, vợ vẫn được hưởng chế độ thai sản dù không tham gia

Vợ không tham gia bảo hiểm xã hội vẫn được hưởng chế độ thai sản khi mang thai có đúng hay không ?

Bảo hiểm thai sản là loại bảo hiểm chăm sóc sức khỏe thai sản được dành riêng cho phụ nữ có mong muốn sinh con và có ý định mang thai. Thông qua việc tham gia loại bảo hiểm này, người phụ nữ khi mang thai được hưởng các chế độ ưu đãi trong việc chăm sóc sức khỏe trong quá trình mang thai. Người tham gia bảo hiểm này sẽ được các tổ chức hỗ trợ chi phí thăm khám thai, sinh nở và chi phí khám chữa bệnh nếu không may gặp phải trong quá trình mang thai.

Cập nhập những quyền lợi bảo hiểm thai sản theo quyết định mới nhất hiện nay tại đây.

thebank_hinh1baohiemthaisantheochong_1510022818

Chị em phụ nữ dù chỉ ở nhà vẫn có thể hưởng chế độ bảo hiểm thai sản theo chồng

Nếu như trước đây, chỉ các chị em đi làm được công ty đóng bảo hiểm xã hội mới có trợ cấp khi sinh con, thì với luật bảo hiểm mới chị em phụ nữ dù chỉ ở nhà vẫn có thể hưởng chế độ thai sản, thường gọi tắt là chế độ bảo hiểm thai sản theo chồng. 

Theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 31 Luật bảo hiểm xã hội sửa đổi, bổ sung  năm 2014 về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau có hiệu lực từ ngày 1/1/2016 cho biết: 

“1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.”

Điều đó có nghĩa, những phụ nữ ở nhà làm công việc nội trợ khi mang thai nhưng không đóng bảo hiểm xã hội, tại thời điểm người vợ sinh con nhưng mà có chồng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại công ty thì người chồng đương nhiên được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Đây là một quyết định mang tính tích cực nhằm giúp cân bằng trách nhiệm cũng như quyền lợi trong việc sinh con và chăm sóc con của nam giới.

Quyền lợi của chế độ bảo hiểm thai sản theo chồng mang lại

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 34 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì: đối với những gia đình có người lao động nam đã đóng bảo hiểm xã hội từ 6 đến 12 tháng trở lên trước khi có vợ mang thai và sinh con được hưởng những chế độ thai sản như sau:

  • Được nghỉ 5 ngày làm việc.
  • Trường hợp trẻ sinh dưới 32 tuần tuổi và phải phẫu thuật, số ngày nghỉ là 7 ngày làm việc.
  • Trường hợp vợi sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc và nếu người vợ sinh 3 thì nghỉ thêm 3 ngày làm việc mỗi bé.
  • Khi sinh đôi trở lên mà người vợ phải phẫu thuật thì số ngày nghỉ là 14 ngày làm việc.
  • Ngoài ra trong trường hợp chỉ có người chồng tham gia bảo hiểm xã hội, thì người chồng sẽ được nhận phụ cấp 1 lần với mức hưởng là 2 tháng lương cơ bản tại tháng sinh con.

thebank_hinh3baohiemthaisantheochong_1510022819

Hưởng chế độ bảo hiểm thai sản theo chồng là một quyết định mang tính tích cực

Điều kiện để được hưởng chế độ bảo hiểm thai sản theo chồng

Người chồng được hưởng chế độ thai sản này với điều kiện là phải đóng bảo hiểm xã hội đủ 6 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi vợ sinh con. Điều kiện này cũng tương tự như điều kiện được hưởng trợ cấp thai sản đối với lao động nữ sinh con.

Để được hưởng chế độ thai sản này, cần làm hồ sơ hưởng chế độ thai sản trong vòng 2 tháng sau khi vợ sinh. Hồ sơ này được gửi lên cơ quan, đơn vị mà người chồng đang tham gia công tác cũng như đóng bảo hiểm xã hội. Hồ sơ bao gồm:

  • Bản sao giấy chứng nhận sinh hoặc giấy khai sinh của con.
  • Giấy chứng nhận sinh con phải phẫu thuật và sinh con dưới 32 tuần nếu có của cơ sở y tế nơi người vợ thực hiện việc sinh con.
  • Trong trường hợp đứa trẻ không may qua đời nhưng chưa có giấy chứng sinh, hồ sơ cần có giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử của con hoặc trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ.